Xem Nhiều 12/2022 #️ Nhận Biết Và Cách Chữa Trị Một Số Loại Bệnh Ở Gà / 2023 # Top 18 Trend | Topcareplaza.com

Xem Nhiều 12/2022 # Nhận Biết Và Cách Chữa Trị Một Số Loại Bệnh Ở Gà / 2023 # Top 18 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Nhận Biết Và Cách Chữa Trị Một Số Loại Bệnh Ở Gà / 2023 mới nhất trên website Topcareplaza.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

a) Đặc điểm bệnh

Bệnh phát ra quanh năm nhưng thường tập trung vào mùa khô từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau. Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi của gà, bệnh phát nhanh, lây lan rộng, tỷ lệ chết cao, điều trị tốn kém, không hiệu quả.

b) Triệu chứng bệnh

– Gà ủ rũ, xù lông, cánh xệ, không ăn hay chui đầu vào cánh, rút cổ nhắm mắt, đứng gật gù cho nên còn gọi là bệnh gà rù.

– Gà ăn không tiêu, diều căng đầy hơi, mũi miệng chảy đầy dịch nhờn keo, thở khò khè bại liệt.

– Phân loãng màu trắng xanh, mùi tanh gà kiệt sức dần rồi chết.

– Những con mắc bệnh kéo dài ở thể mãn tính, thì có triệu chứng thần kinh co giật, quẹo cổ, đi thục lùi hoặc đi bằng đầu gối, mổ không trúng thức ăn.Bệnh tích chủ yếu của bệnh này là xuất huyết ở dạ dày tuyến

c) Biện pháp phòng trị

– Gà 3 – 5 ngày tuổi dùng vaccin dịch tả hệ II (hệ F), lọ 100 liều pha với 10cc nước sinh lý mặn nhỏ mỗi con 2 giọt vào mắt hoặc mũi.

– Gà 20 – 25 ngày tuổi cho uống vaccin Lasota, lọ 100 liều pha với 100cc nước sinh lý mặn, mỗi con uống 1cc hoặc pha với 0,5 lít nước đun sôi để nguội cho gà uống tự do hoặc dùng vaccin chịu nhiệt cho uống, lọ 50 liều pha với 0,5 lít nước đun sôi để nguội cho gà uống tự do (nên cho gà nhịn khát từ 1 đến 2 giờ, sau đó pha vaccin cho gà uống, gà sẽ uống nhanh và đồng đều).

– Gà 2 tháng tuổi chích vaccin dịch tả hệ I (hệ M), lọ 100 liều pha với 100 ml nước sinh lý mặn, chích mỗi con 1 ml dưới da cổ hoặc ức hoặc dùng vaccin chịu nhiệt cho uống.

– Khi phát hiện trong đàn có gà nghi bệnh dịch tả, tách riêng những con bệnh ra xử lý không điều trị, số mạnh còn lại cho uống vaccin Lasota hoặc chịu nhiệt và tăng liều gấp đôi so với liều phòng, đồng thời cho uống thêm kháng sinh và vitamin để chống kế phát và tăng sức đề kháng cho cơ thể.

2. Bệnh Gumboro

a) Đặc điểm bệnh

– Bệnh thường xảy ra ở gà con từ 3 – 6 tuần tuổi.

– Bệnh phát ra đột ngột, lây lan nhanh tỉ lệ chết cao từ 20 – 30% (ngày thứ 3, 4 sau khi phát bệnh).

b) Triệu chứng bệnh

– Gà có hiện tượng bay nhảy lung tung, bứt rứt khó chịu, mổ cắn nhau vào khu vực hậu môn.

– Giảm ăn hoặc bỏ ăn, ủ rũ, xã cánh, diều căng đầy hơi, tiêu chảy phân loãng trắng.

– Mổ gà bệnh xẽ phát hiện ở vùng ngực, đùi có những vệt xuất huyết bầm đen, túi Fabricius sưng to, bên trong có dạng như múi khế chứa nhiều dịch nhầy hoặc xuất huyết đỏ.

c) Biện pháp phòng trị

– Định kỳ sát trùng chuồng và dụng cụ chăn nuôi bằng thuốc sát trùng: Biodin 0,33% hoặc Virkon 0.5%.

– Gà 1 – 3 ngày tuổi dùng vaccin Gumboro của xí nghiệp hoặc vaccin Bur 706 (nhập) nhỏ mắt mỗi con 2 giọt và lặp lại lần 2 lúc gà 15 – 18 ngày tuổi. Hoặc phòng theo lịch phòng tùy địa phương và hãng thuốc khuyến cáo.

– Cách ly ngay các con bệnh ra khỏi đàn.

– Hiện nay chưa có kháng sinh đặc trị bệnh này, chỉ dùng thuốc trợ sức và cầm máu để tăng cường khả năng kháng bệnh cho gà.+ Catosal hoặc Bcomplex 4 ml+ Vitamin B12 2 ống+ Vitamin K 2 ống+ Vitamin C 1000 mg 2 ống+ Kết hợp với nước sinh lý ngọt chích cho 20 kg gà/lần/ngày, chích liên tục 2 ngày.+ Sử dụng Anti – Gumboro, Vitamin C, đường Glucoza pha nước cho uống liên tục 4 – 5 ngày.

– Trường hợp có phụ nhiễm bệnh khác, thì dùng kháng sinh đặc trị bệnh đó, sử dụng liều thấp ban đầu rồi tăng dần lên.

3. Bệnh tụ huyết trùng

a) Đặc điểm bệnh

– Bệnh thường xảy ra ở gà giò và gà lớn và cũng phát triển mạnh vào những lúc giao mùa (từ mưa chuyển sang nắng hay ngược lại).

– Bệnh xảy ra đột ngột, lây lan nhanh và thường gây chết nhiều về đêm, có trường hợp gà đang ấp nằm chết trên ổ.

b) Triệu chứng bệnh

– Gà ủ rũ, kém hoặc bỏ ăn, mồng tím tái, miệng chảy nhiều dịch nhờn, thức ăn không tiêu, tiêu chảy phân trắng đôi khi có lẫn máu, thở khò khè, bại liệt rồi chết.

– Bệnh kéo dài, mào và yếm sưng, gà tiêu chảy, sưng khớp.

– Mổ gà thấy: tích nước màng bao tim, xuất huyết mỡ vành tim, bao tim; gan sưng, có những nốt hoại tử màu trắng như hạt phấn.

c) Biện pháp phòng trị

– Gà mới mua về hoặc lúc thời tiết thay đổi, lúc chuyển chuồng nên trộn kháng sinh như Tetra-Mutin hay Neotesol… và vitamin C cho gà uống liên tục 3 – 5 ngày.

– Phòng bệnh bằng vaccin Tụ huyết trùng cho gà lúc 30 – 40 ngày tuổi, mỗi con 0,5cc. Chích lặp lại khi gà 2 tháng tuổi mỗi con 1 ml.

– Nuôi gà đẻ: trước khi đẻ và sau 4 tháng chích lặp lại 1 lần, 1ml/con, chích dưới da cổ.

– Sử dụng một trong các loại kháng sinh sau đây:+ Kanamycin 1g/15 kg thể trọng, ngày chích 1 lần.+ Enrofloxacin (5%) 1cc/5 kg thể trọng, ngày chích 1 lần.+ Septotrim (24%) 1cc/3 kg thể trọng, ngày chích 1 lần.+ Kết hợp Dexamethasone với Analgin, chích liên tục 2 ngày và cho uống kháng sinh như phần phòng bệnh trên với liều gấp đôi, liên tục 3 – 5 ngày.+ Quét dọn chuồng trại sạch sẽ và sát trùng bằng Virkon 0.5% hoặc Biodin 0.33%.

4. Bệnh cúm gia cầm (H5N1)

a) Đặc điểm bệnh

– Là một bệnh cấp tính do virus gây nên có biểu hiện chủ yếu ở đường hô hấp của động vật với các triệu chứng như sốt cao, ho, mệt mỏi tòan thân, đau đầu, đau cơ, động vật non kèm theo các triệu chứng tiêu hóa như buồn nôn, tiêu chảy.

– Bệnh có tính lây lan nhanh trên phạm vi rộng và thường gây thành dịch và tử vong nhiều ở động vật non và già, lây nhiễm từ lòai này sang lòai khác và cả người.

– Do virus cúm A gây ra cho hầu hết các lòai gia thủy cầm, bệnh thường xuất hiện thể cấp tính , tỉ lệ chết cao, cúm týp A do virus H5N1 gây ra cho gà, có thể gây bệnh và làm chết người.

b) Tác nhân gây bệnh

– Virus cúm là một lọai virus có khả năng tồn tại khá lâu trong nhiều điều kiện khác nhau, nhất là ở nhiệt độ thấp, vì vậy dịch cúm thường xảy ra vào mùa lạnh.

– Trong điều kiện đông lạnh virus tồn tại khá lâu.

– Ở 22 độ C virus sống được 2 – 6 tháng.

– Trong không khí 33 độ C virus sống được 4 giờ.

– Ở nhiệt độ 60 độ C virus chết trong vòng 5 phút.

– Virus khá mẫn cảm với các lọai thuốc sát trùng gốc clo và iod cũng như chịu đựng kém với chất sát trùng mạnh như Fomol.

c) Cách lây truyền, thời kỳ ủ bệnh, thời kỳ lây lan, tính cảm nhiểm và đề kháng

– Đến nay chưa xác định được tất cả các đường lây truyền của virus cúm, nhiều khả năng virus lây gián tiếp qua đường không khí do hít phải virus dưới dạng khí dung hoặc do tiếp xúc trực tiếp với vật nuôi hay người có bệnh.

– Một nguồn lây rất quan trọng đó là các lòai chim di trú , thức ăn gia súc công ngiệp nhiễm virus cũng là nguồn lây truyền khá nguy hiểm cho các trại chăn nuôi.Thời kì ủ bệnh cúm từ 1 – 3 ngày.

– Thú mang bệnh có thể lây truyền bệnh cho thú khác từ 3 – 5 ngày sau khi có triệu chứng bệnh cho đến khi chết hoặc nhiều ngày sau khi hết bệnh.

– Mức độ bệnh thay đổi từ khi có triệu chứng đường hô hấp đến nhẹ , trầm trọng hay dẩn đến tử vong tùy vào lòai cảm nhiễm và các yếu tố khác như tuổi, giới tính, liều gây nhiễm, môi trường hay sự cộng nhiễm của các bệnh khác.

d) Triệu chứng và bệnh tích

Ở gia cầm giảm đẻ trứng, xuất hiện triệu chứng hô hấp như thở khó , có tiếng ran, chảy nhiều nước mắt, viêm xoang, xanh tím dưới da, đặc biệt là da cổ, và mào xuất huyết, phù đầu và mặt, xù lông, tiêu chảy, rối loạn thần kinh, tỉ lệ chết cao đến 100%. Trường hợp cấp tính gà bệnh chết mà không có triệu chứng điển hình. Bệnh tích đặc trưng ở gia cầm là phổi sưng , xuất huyết và họai tử. Buồng trứng và ruột viêm, xuất huyết não và cơ tim.

e) Chuẩn đoán bệnh và biện pháp phòng bệnh

– Chẩn đóan lâm sàng chỉ là phỏng đóan. Chần đoán xác định phải phân lập virus từ dịch tiết hay phân của thú bệnh qua nuôi cấy trên phôi trứng.

– Về phương diện thú y do bệnh không có thuốc đặc trị nên phòng bệnh là biện pháp chủ yếu để giảm thiệt hại.

– Phòng bệnh bằng cách tiêu độc và cách ly là biện pháp duy nhất để giảm thiệt hại.Trước mùa dịch các biện pháp vệ sinh tiêu độc chuồng trại là rất cần thiết để hạn chế mật số của virus gây bệnh. Tăng sức đề kháng bằng cách giảm mật độ cho gia súc uống hoặc trộn thức ăn Vitamin C và B12 để chống Stress do thức ăn và thời tiết là biện pháp tốt để giảm khả năng nhiễm bệnh của gia cầm.

– Trong mùa dịch không cho vật nuôi tiếp xúc với vật nuôi bệnh. Thường xuyên tiêu độc chuồng nuôi, phun thuốc sát trùng trong thời gian nuôi, giữa hai đợt nuôi chuồng phải được tiêu độc đúng kỹ thuật và bỏ trống, khô ít nhất 2 tuần. Tiêu độc kỷ các phương tiện ra vào trại chăn nuôi, hạn chế công nhân đi lại từ chuồng này sang chuồng khác. Hạn chế tối đa việc tham quan.

– Chống dịch: nếu xác định có nguy cơ lây nhiễm cho người thì phải tiêu diệt các vật nuôi nhiễm bệnh hay có nguy cơ nhiễm bệnh cao. Để dập tắt dịch cúm gia cầm bán kính 3 km tính từ ổ dịch được áp dụng để hủy các đàn trong khu vực. Ngưng vận chuyển, chế biến và tiêu thụ các sản phẩm từ gia cầm ngay trong vùng dịch. Tiêu độc, tẩy uế và vệ sinh nơi có dịch.

Cách Nhận Biết Và Điều Trị Một Số Bệnh Thường Gặp Ở Chim Vẹt / 2023

Vẹt có tên khoa học là Psittaciformes. Là loài chim thuộc bộ Psittaciformes, với gần 372 loài trong 86 chi. Chủ yếu sống ở vùng nhiệt đới ấm áp. Bộ vẹt được chia ra làm ba siêu họ: Psittacoidea, Cacatuoidea và Strigopoidea. Loài vẹt thường phân bố khắp miền nhiệt đới với một số loài sinh sống trong vùng ôn đới Nam bán cầu.

Vẹt đều có hình dáng và cách sống hao hao giống nhau. Nên mỗi khi chúng ta gặp một loại vẹt, dù mầu sắc và hình dáng lớn nhỏ khác nhau thế nào chăng nữa. Chúng ta đều biết ngay đó là giống vẹt.

Có loại vẹt, chúng sống thành cặp đôi hai con, luôn luôn bên nhau. Cặp trống mái một khi đã thành vợ chồng là chúng không bao giờ xa nhau. Chúng gù gù những câu tâm tình như chim bồ câu. Giọng của chúng lúc đó âm sắc khác biệt như đang rủ rỉ nói với nhau những lời yêu đương nồng thắm. Trong mùa sinh nở, giọng thủ thỉ của chúng vẫn thế nhưng trâm trầm hơn. Và hầu như có sức mạnh khích thích đến sự tăng nở buồng trứng của con cái rất nhiều.

Các bệnh thường gặp ở chim Vẹt và cách chữa trị

Vẹt rất dễ nhiễm nhiều bệnh do vi khuẩn hoặc do virut, hoặc do nấm, ký sinh trùng. Nhiều bệnh dễ lây nhiễm và gây tử vong. Có một vài bệnh đặc trưng cho loài này, còn loài khác lây nhiễm bất cứ bệnh nào.

Đây là loại bệnh có triệu chứng: ỉa chảy, viêm màng tiếp hợp, khó thở, có triệu chứng thần kinh, nôn mửa. Bệnh thường gặp nhất vì bệnh này còn lây sang cả người. Tác nhân chính của bệnh là Chlamydophila Psittaci gây bệh đường phổi. Nhiễm trùng thường xảy ra kín đáo và vẹt lúc đó vẫn bình thường, chẩn đoán dựa vào xem phân.

Cách chữa dùng Tetracyline trộn vào thức ăn hoặc pha nước uống trong thời gian 30-45 ngày

Khi vẹt có biểu hiện nôn nước, ỉa chảy, gầy rộc, chán ăn. Rối loạn thần kinh, run rảy, vẹo cổ, thiếu đồng bộ các động tác. Rối loạn sinh sản vô sinh, trứng bé, vỏ mỏng. Thì Vẹt của bạn có thể nhiễm và bệnh này tiến triển dưới dạng cấp tính hoặc dạng mãn tính. Vi khuẩn có thể trực tiếp gây nhiễm trùng trong noãn và sau khi đẻ gây ra tử vong.

Việc chẩn đoán bệnh này cần phải được phân lập được mầm bệnh, sau đó dùng kháng sinh

Tác nhân là vi khuẩn Yersinia psendotubescu-losis. Vẹt mắc bệnh lông xù dựng, tiến triển bệnh nhanh. Vẹt nhiễm bệnh chết trong vòng 3-5 ngày, nếu Vẹt đang ấp sẽ bỏ ấp.

Bệnh này có thể xác định chắc chắn nếu mổ tử thi các con chết, lách chim to, gan và lách có nhiều chấm trắng nhỏ, khá cứng, gan có thể đen và chim bị sung huyết màng phổi. Câc bệnh phẩm cho phép xác định được chủng gây bệnh để có phương pháp điều trị thích hợp. Hãy chuyển chim bệnh sang lồng riêng biệt tránh tiếp xúc với các con khác vì bệnh này rất hay lây.

Trong vòng 10 ngày, dùng Chloramphenicol, Micolicine, pha 12 giọt/60ml nước, hoặc 5ml thuốc cho 1 litte. Tốt nhất điều chế mỗi lần 50ml. Hoặc dùng Baytril 10% loại dung dịch pha 1ml cho 1 litte nước.

Tác nhân gây bệnh là khuẩn “megabacterium” cư trú ở các tuyến trong diều chim. Và làm hỏng trầm trọng chức năng dạ dày, vấn đề ăn không dính đến. Nhưng chim bị gầy mòn dần phân có những hạt không tiêu hoá.

Dùng thuốc Amphote’ricine B theo đường miệng tối thiểu 10 ngày

Đó là 1 bệnh do virut gây ra liệt từ từ diều và xâm nhập vào thần kinh. Vẹt mắc bệnh ưa trớ và không tiêu hoá được, những hạt thấy ở phân. Bệnh này không có cách chữa ngoài cách cho ăn thức ăn lỏng và chất lượng. Theo dõi xem có nhiễm trùng thứ cấp không

Có thể dùng Acyclovit giảm lây bệnh nhưng nếu chim bị nhiễm bệnh rồi thì vô ích.

Đó là bệnh do virut, những vẹt non thường mắc trước khi bố mẹ thôi cho ăn. Vẹt có các triệu chứng như diều không thoát khí, ủ rũ, chán ăn, xuất huyết dưới da. Bệnh này có thể nhận thấy qua phân, dịch nhày mũi và ở bụi lông. Bụi lông có thể làm ô nhiễm nước và thức ăn, chim bố mẹ thường mang virut rồi truyền bệnh cho con.

Chỉ có tiêm Vacxin phòng. Sau khi xác định chim đã mắc bệnh này phải cách ly và không cho sin sản. Sau 90-120 ngày kiểm tra lại.

Do virut Poxvirut, thường lây nhiễm do muỗi, côn trùng đốt, triệu chứng: đau mắt, có màng bạch hàu ở đường hô hấp, nhiễm trùng thứ cấp.

Điều trị dùng kháng sinh có phổ rộng để chống nhiễm trùng thứ cấp, không có hiệu quả với virut.

Gây nên do các loại nấm khác nhau, đó là những tác nhân gây bệnh do cho ăn kém hoặc do điều trị kháng sinh kéo dài Bệnh nấm nặng nhất là nấm Aspergillose. Vẹt có triệu chứng như khó thở, ho và có tiếng rít như còi. Mỏ mở và khép bất thường, chim trông héo hắt từ từ

Chẩn đoán bệnh này bằng thử máu, nội soi, cấy mô. Điều trị dùng thuốc kháng nấm Antimucosique như Fluconajole, Ketoconajol… Cho thuốc theo dạng xông xịt, ngoài ra dùng kháng sinh để chống nhiễm trùng

Cách Nhận Biết Chim Họa Mi Bị Bệnh Và Cách Chữa Trị / 2023

Lướt qua một số trang web trao đổi về kinh nghiệm nuôi chim họa mi, có rất nhiều thành viên bối rối khi phát hiện ra chim họa mi của mình bị bệnh. Và vì không biết nên làm thế nào nên họ bắt đầu cầu cứu những người nuôi họa mi khác. Đại đa số, chim họa mi mắc phải những bệnh phổ biến sau đây:

– Bệnh khàn tiếng:

+ Triệu chứng: Họa mi hót đứt quãng, giọng không trong và hay bị ngắt khi lên cao giọng.

+ Nguyên nhân: Có thể do chim bị cảm lạnh do gió lạnh, do trời nóng nên bị cảm nhiệt. Hoặc cũng có thể do chim ăn đồ ăn nóng quá nên bị nhiệt.

+ Cách chữa trị: Đa số những khi họa mi bị bệnh này, người nuôi hoang mang không biết họa mi không hót phải làm sao. Lúc này, người nuôi không nên hoang mang nhiều mà nên hiểu họa mi chỉ đang bị khan tiếng và hoàn toàn có thể chữa trị được. Có thể choc him uống nước chanh pha với nước, uống siro của trẻ em hoặc là ăn than hoa…

+ Cách phòng tránh: Người ta nói phòng bệnh hơn chữa bệnh, nên để đảm bảo trước hết phải đề phòng, tránh họa mi bị khan tiếng bằng cách tránh những nơi gió lạnh, trời nóng quá không nên cho ra ngoài nóng rồi cho chim đi tắm tránh bị sốc nhiệt đột ngột.

– Bệnh ỉa chảy:

+ Triệu chứng: Chim ỉa lỏng, phân trắng như màu bột gạo kèm theo chất nhầy của niêm mạc ruột.

+ Nguyên nhân: Do người nuôi không nắm vững chế độ dinh dưỡng của chim. Cho ăn quá nhiều mồi tươi hoặc quá nhiều chất đạm nên không tiêu hóa hết.

+ Cách chữa trị: Ngừng hẳn việc cho chim ăn mồi tươi và chất đạm khi phát hiện ra chim bị ỉa chảy. Nếu bị nhẹ, chỉ cần cho chim ăn cám hạt thì chim sẽ tự khỏi. Trong trường hợp nặng hơn thì ra nơi bán thuốc cho chim mua thuốc điều trị ỉa chảy.

+ Cách phòng tránh: Nên chú ý kĩ đến thức ăn cho chim họa mi. Không cho chim ăn nhiều mồi tươi, không cho chim ăn nhiều chất đạm tránh chim không tiêu hóa hết sẽ dễ dẫn đến ỉa chảy.

Một Số Bệnh Thường Gặp Ở Vẹt Và Cách Chưa Trị / 2023

Vẹt rất dễ nhiễm nhiều bệnh do vi khuẩn hoặc do virut, hoặc do nấm, ký sinh trùng. Nhiều bệnh dễ lây nhiễm và gây tử vong. Có một vài bệnh đặc trưng cho loài này, còn loài khác lây nhiễm bất cứ bệnh nào.

ỉa chảy

viêm màng tiếp hợp

khó thở

có triệu chứng thần kinh

nôn mửa

Nhiễm trùng thường xảy ra kín đáo và vẹt lúc đó vẫn bình thường, chẩn đoán dựa vào xem phân. Cách chữa dùng Tetracyline trộn vào thức ăn hoặc pha nước uống trong thời gian 30-45 ngày2 – Bệnh Salmonellose và Colibacillose ( trực khuẩn) Vẹt có thể nhiễm và bệnh này tiến triển dưới dạng cấp tính ( ỉa chảy, chán ăn, ủ rũ) hoặc dạng mãn tính ( viêm khớp, viêm gan, rồi loạn hệ thần kinh) Bệnh trực khuẩn Coli là bệnh do vi trùng , có triệu chứng đa dạng, tác nhân gây bệnh do trùng Escherechia Coli gây ra iều triệu chứng khác nhau vì nó tấn công vào nhiều cơ quan nội tạng. Vi khuẩn có thể trực tiếp gây nhiễm trùng trong noãn và sau khi đẻ gây ra tử vong. Triệu chứng thường thấy

viêm đường tiêu hoá làm chim nôn nước, ỉa chảy, gầy rộc, chán ăn

rồi loạn thần kinh, run rảy, vẹo cổ, thiếu đồng bộ các động tác

rối loạn sinh sản ( vô sinh, trứng bé, vỏ mỏng)

ủ rũ

phân màu vàng

chết nhanh mà không rõ triệu chứng

Có thể dùng Acyclovit giảm lây bệnh nhưng nếu chim bị nhiễm bệnh rồi thì vô ích.7 – Bệnh ở mỏ và lông Bệnh này do virut Circovirut gây ra, lông mọc khó khăn, lông măng không phát triển, có xuất huyết ở chân lông, rụng lông. Mỏ và móng mọc bất thường trở nên dòn. Bệnh này làm chim mất sức đề kháng do đó rất dễ nhiễm bệnh khác. Diễn biến bệnh mãn tính và hay gặp ở Vẹt Cookato. Dạng cấp tính hay gặp ở loài vẹt nhỏ ư Inseparable ( lovebird), triệu chứng gan bị bệnh nặng và chết Chẩn đoán dễ dàng, chỉ cần quan sát lông xù Hiện chưa có cách điều trị bệnh này8 – Bệnh Polyomavirut Đó là bệnh do virut, những vẹt non thường mắc trước khi bố mẹ thôi cho ăn. Triệu chứng:

Diều không thoát khí

ủ rũ

chán ăn

xuất huyết dưới da

Chết sau 2-3 ngày sau khi những triệu chứng xác định. Bệnh này có thể nhận thấy qua phân, dịch nhày mũi và ở bụi lông, bụi lông có thể làm ô nhiễm nước và thức ăn, chim bố mẹ thường mang virut rồi truyền bệnh cho con Ở Yến phụng bệnh biểu hiện hơi khác, có thể lông khô xác rụng và cũng chẳng có thuốc chữa hiệu quả. Chỉ có tiêm Vacxin phòng. Sau khi xác định chim đã mắc bệnh này phải cách ly và không cho sin sản. Sau 90-120 ngày kiểm tra lại9 – Bệnh Variofe ( đậu mùa) Do virut Poxvirut, thường lây nhiễm do muỗi, côn trùng đốt, triệu chứng:

viêm nàng tiếp hợp (đau mắt)

có màng bạch hàu ở đường hô hấp

nhiễm trùng thứ cấp

Điều trị dùng kháng sinh có phổ rộng để chống nhiễm trùng thứ cấp, không có hiệu quả với virut10 – Bệnh Mycose ( bệnh do nấm) Gây nên do các loại nấm khác nhau, đó là những tác nhân gây bệnh do cho ăn kém hoặc do điều trị kháng sinh kéo dài Bệnh nấm nặng nhất là nấm Aspergillose, có triệu chứng:

khó thở

ho và có tiếng rít như còi

Mỏ mở và khép bất thường

chim trông héo hắt từ từ

Chẩn đoán bệnh này bằng thử máu, nội soi, cấy mô. Điều trị dùng thuốc kháng nấm Antimucosique như Fluconajole, Ketoconajol… Cho thuốc theo dạng xông xịt, ngoài ra dùng kháng sinh để chống nhiễm trùng11 – Bệnh Verminote (nhiễm giun) Thường do sán, giun đũa, giun chỉ, chết do tắc ruột. Dingf thuốc trị giun sán thích hợp, triệu chứng:

12 – Bệnh do ký sinh trùng Parsitose Do ký sin trùng ngoài da, được biết nhiều là loài Rận đỏ ( vạch lông thấy ngay), bệnh Acariose hoặc bệnh ghẻ mỏ ( vảy rộp trắng dày quanh mắt và mỏ). Điều trị dùng Ivermectin rỏ 1 giọt vào giữa 2 cánh sau gáy

Nguồn : Chú Tiến Bùi/ Yêu Vẹt Club

Từ khóa tìm kiếm :

Bạn đang xem bài viết Nhận Biết Và Cách Chữa Trị Một Số Loại Bệnh Ở Gà / 2023 trên website Topcareplaza.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!